Chuyển tới nội dung
Trang chủTin tứcTai Nạn Lao Động: Người Lao Động Được Nhận Tiền Từ Hai Nguồn, Không Phải Một
Lao động & Nhân sự17/08/2026·22 phút đọc

Tai Nạn Lao Động: Người Lao Động Được Nhận Tiền Từ Hai Nguồn, Không Phải Một

Bồi thường từ người sử dụng lao động theo Điều 38 và trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động là hai khoản độc lập, người lao động được hưởng cả hai.

Tai Nạn Lao Động: Người Lao Động Được Nhận Tiền Từ Hai Nguồn, Không Phải Một
Tóm tắt nhanh

Bồi thường từ người sử dụng lao động theo Điều 38 và trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động là hai khoản độc lập, người lao động được hưởng cả hai.

Một công nhân bị máy cắt đứt hai ngón tay, giám định suy giảm 21% khả năng lao động. Công ty đưa hồ sơ lên cơ quan bảo hiểm xã hội, anh nhận được khoản trợ cấp một lần. Công ty coi như đã xong trách nhiệm.

Không xong. Khoản anh nhận là tiền từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Ngoài khoản đó, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 buộc người sử dụng lao động phải bồi thường riêng, và với mức suy giảm 21% thì khoản bồi thường ít nhất bằng 5,9 tháng tiền lương của anh. Hai nguồn này độc lập, người lao động được hưởng cả hai.

Đây là hiểu lầm phổ biến nhất về tai nạn lao động ở cả hai phía. Người lao động nghĩ nhận tiền bảo hiểm là hết. Doanh nghiệp nghĩ đã đóng bảo hiểm thì bảo hiểm lo. Cả hai đều bỏ sót nghĩa vụ bồi thường riêng của người sử dụng lao động, khoản thường lớn hơn nhiều so với trợ cấp bảo hiểm.

Trả Lời Nhanh

Người lao động bị tai nạn lao động được nhận tiền từ hai nguồn độc lập. Nguồn thứ nhất là bồi thường hoặc trợ cấp từ người sử dụng lao động theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Nguồn thứ hai là trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Mức bồi thường từ người sử dụng lao động khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động: ít nhất 1,5 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 5% đến 10%; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 11% đến 80%; ít nhất 30 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 81% trở lên hoặc người lao động chết.

Nếu tai nạn do lỗi của chính người lao động, người sử dụng lao động vẫn phải trợ cấp một khoản ít nhất bằng 40% mức bồi thường nói trên với mức suy giảm tương ứng.

Ngoài ra người sử dụng lao động còn phải thanh toán chi phí y tế và trả đủ tiền lương trong thời gian người lao động nghỉ điều trị, phục hồi chức năng. Thời hạn thực hiện bồi thường, trợ cấp là 05 ngày kể từ ngày có kết luận giám định y khoa hoặc biên bản điều tra tai nạn lao động.

Bảng Tóm Tắt Nhanh

Vấn đềNội dung
Số nguồn tiềnHai nguồn độc lập, được hưởng cả hai
Bồi thường khi không do lỗi người lao độngÍt nhất 1,5 tháng lương với suy giảm 5-10%, cộng 0,4 tháng cho mỗi 1% từ 11-80%
Suy giảm từ 81% trở lên hoặc chếtÍt nhất 30 tháng tiền lương
Trợ cấp khi do lỗi người lao độngÍt nhất 40% mức bồi thường tương ứng
Chi phí y tếNgười sử dụng lao động thanh toán từ sơ cứu đến điều trị ổn định
Tiền lương khi nghỉ điều trịNgười sử dụng lao động trả đủ
Thời hạn bồi thường, trợ cấp05 ngày kể từ ngày có kết luận giám định hoặc biên bản điều tra
Điều kiện hưởng chế độ từ quỹ bảo hiểmSuy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên
Trợ cấp một lần từ quỹ, suy giảm 5%12.650.000 đồng, mỗi 1% thêm cộng 1.265.000 đồng
Trợ cấp hằng tháng từ quỹ, suy giảm 31%759.000 đồng, mỗi 1% thêm cộng 50.600 đồng
Trợ cấp khi chết do tai nạn lao động91.080.000 đồng
Tiền lương làm cơ sở tínhMức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác

Những Tình Huống Thực Tế Thường Gặp

Doanh nghiệp nghĩ đã đóng bảo hiểm là hết trách nhiệm. Đây là hiểu lầm gây tranh chấp nhiều nhất. Quỹ bảo hiểm chi trả một phần, phần còn lại thuộc trách nhiệm trực tiếp của người sử dụng lao động và không được chuyển sang quỹ.

Người lao động nhận tiền bảo hiểm rồi mới biết còn khoản khác. Nhiều trường hợp phát hiện sau vài tháng, khi đó việc đòi lại khó hơn vì doanh nghiệp cho rằng đã thỏa thuận xong.

Doanh nghiệp đổ lỗi cho người lao động để giảm mức chi. Ranh giới giữa "không hoàn toàn do lỗi người lao động" và "do lỗi của chính họ" quyết định mức tiền chênh nhau hơn hai lần rưỡi. Biên bản điều tra tai nạn lao động là tài liệu quyết định điểm này.

Không khai báo tai nạn, tự thỏa thuận riêng. Doanh nghiệp đề nghị đưa một khoản tiền và không lập hồ sơ. Cách này khiến người lao động mất quyền hưởng chế độ từ quỹ bảo hiểm, đồng thời doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ khai báo.

Tai nạn trên đường đi làm. Nhiều người không biết trường hợp nào được tính là tai nạn lao động, trường hợp nào không, và điều kiện cụ thể ra sao.

Hai Nguồn Tiền Độc Lập

Đây là phần cốt lõi của bài. Hiểu sai điểm này dẫn đến mất tiền với người lao động, và dẫn đến tranh chấp kéo dài với doanh nghiệp.

Tiêu chíNguồn 1: Người sử dụng lao độngNguồn 2: Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Căn cứĐiều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 48 đến Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015
Ai trảDoanh nghiệp trả trực tiếpCơ quan bảo hiểm xã hội chi trả từ quỹ
Cách tínhTheo số tháng tiền lương của chính người lao độngTheo mức tham chiếu và tỷ lệ suy giảm
Yếu tố lỗiCó ảnh hưởng: bồi thường hay trợ cấp 40%Không phụ thuộc lỗi, chỉ cần đủ điều kiện
Bao gồmChi phí y tế, tiền lương khi nghỉ điều trị, bồi thường hoặc trợ cấpTrợ cấp một lần hoặc hằng tháng, trợ cấp phục vụ, dưỡng sức, hỗ trợ chuyển đổi nghề

Vì sao nguồn thứ nhất thường lớn hơn. Trợ cấp từ quỹ tính theo mức tham chiếu, hiện là 2,53 triệu đồng, giống nhau cho mọi người lao động. Bồi thường từ người sử dụng lao động tính theo tiền lương thực tế của chính người lao động đó, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Với người có thu nhập khá, khoản này lớn hơn nhiều lần trợ cấp bảo hiểm.

Ví dụ, người lao động lương 20 triệu đồng một tháng, suy giảm 21% khả năng lao động, tai nạn không do lỗi của mình: bồi thường tối thiểu là 1,5 tháng cộng 11 lần 0,4 tháng, tức 5,9 tháng lương, tương đương 118 triệu đồng. Con số này độc lập với trợ cấp một lần từ quỹ.

Căn Cứ Pháp Lý

Văn bảnĐiều khoảnNội dung
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (số 84/2015/QH13)Điều 34, 35Khai báo và điều tra tai nạn lao động
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 38Trách nhiệm của người sử dụng lao động
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 39Bồi thường, trợ cấp trong trường hợp đặc thù
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 40Trường hợp không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 45Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động
Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015Điều 48 đến 55Các chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Nghị định 161/2026/NĐ-CPTừ 01/07/2026Mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng, làm cơ sở tính các mức trợ cấp

Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016. Các mức trợ cấp từ quỹ được tính theo mức tham chiếu, mà mức tham chiếu bằng mức lương cơ sở khi chưa bãi bỏ. Vì vậy mỗi lần điều chỉnh lương cơ sở là các mức trợ cấp thay đổi theo.

Doanh nghiệp chỉ đưa một khoản và nói đã xong trách nhiệm? N.H Legal rà soát hồ sơ, tính đúng số tiền người lao động được hưởng từ cả hai nguồn và hỗ trợ yêu cầu phần còn thiếu. Hotline/Zalo: 0777 516 000.

Bồi Thường Và Trợ Cấp Từ Người Sử Dụng Lao Động

Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 liệt kê mười nhóm trách nhiệm. Bốn nhóm liên quan trực tiếp đến tiền.

1. Chi phí y tế

Người sử dụng lao động phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu và tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu, điều trị. Sau đó thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu đến khi điều trị ổn định:

  • Với người lao động có bảo hiểm y tế: thanh toán phần đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả
  • Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động với trường hợp kết luận suy giảm dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu đi giám định
  • Với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế: thanh toán toàn bộ chi phí y tế

2. Tiền lương trong thời gian điều trị

Trả đủ tiền lương cho người lao động phải nghỉ việc trong thời gian điều trị và phục hồi chức năng lao động. Đây là khoản riêng, không trừ vào bồi thường.

3. Bồi thường khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động

Mức suy giảm khả năng lao độngMức bồi thường tối thiểu
Từ 5% đến 10%1,5 tháng tiền lương
Từ 11% đến 80%1,5 tháng cộng thêm 0,4 tháng cho mỗi 1% vượt quá 10%
Từ 81% trở lên, hoặc người lao động chết30 tháng tiền lương

Quy định này cũng áp dụng cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp.

Cách tính nhanh cho mức 11% đến 80%: lấy tỷ lệ suy giảm trừ đi 10, nhân với 0,4, rồi cộng 1,5. Ví dụ suy giảm 21%: lấy 21 trừ 10 bằng 11, nhân 0,4 bằng 4,4, cộng 1,5 bằng 5,9 tháng tiền lương.

4. Trợ cấp khi tai nạn do lỗi của chính người lao động

Người sử dụng lao động vẫn phải trợ cấp một khoản ít nhất bằng 40% mức bồi thường nói trên với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng. Nghĩa là ngay cả khi người lao động có lỗi hoàn toàn, doanh nghiệp không thoát khỏi nghĩa vụ chi trả.

Mức suy giảmBồi thường (không do lỗi NLĐ)Trợ cấp (do lỗi NLĐ)
5% đến 10%1,5 tháng lương0,6 tháng lương
21%5,9 tháng lương2,36 tháng lương
50%17,5 tháng lương7 tháng lương
Từ 81% trở lên hoặc chết30 tháng lương12 tháng lương

Đây là mức tối thiểu. Hai bên có thể thỏa thuận mức cao hơn, và nội quy lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể có thể quy định mức có lợi hơn cho người lao động.

Tiền lương làm cơ sở tính

Khoản 10 Điều 38 quy định tiền lương làm cơ sở tính bồi thường, trợ cấp và tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động.

Đây là điểm doanh nghiệp hay tính thiếu, chỉ lấy mức lương cơ bản trong hợp đồng mà bỏ qua phụ cấp và các khoản bổ sung.

Thời hạn 05 ngày

Khoản 7 Điều 38 quy định người sử dụng lao động phải thực hiện bồi thường, trợ cấp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động, hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra đối với vụ tai nạn lao động chết người.

Trợ Cấp Từ Quỹ Bảo Hiểm Tai Nạn Lao Động

Điều kiện hưởng theo Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015: người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn, và tai nạn thuộc các trường hợp luật định.

Các mức dưới đây tính theo mức tham chiếu 2,53 triệu đồng áp dụng từ ngày 01/07/2026 theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP.

Chế độMức hưởng từ 01/07/2026Căn cứ
Trợ cấp một lần, suy giảm 5%12.650.000 đồngĐiều 48
Cứ suy giảm thêm 1%Cộng thêm 1.265.000 đồngĐiều 48
Trợ cấp hằng tháng, suy giảm 31%759.000 đồng một thángĐiều 49
Cứ suy giảm thêm 1%Cộng thêm 50.600 đồngĐiều 49
Trợ cấp phục vụ2.530.000 đồngĐiều 52
Trợ cấp khi người lao động chết91.080.000 đồngKhoản 1 Điều 53
Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe759.000 đồng một ngàyKhoản 3 Điều 54

Ngoài các khoản trên, người lao động còn có thể được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo Điều 51, và được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp khi trở lại làm việc theo Điều 55.

Lưu ý về ranh giới giữa trợ cấp một lần và trợ cấp hằng tháng: suy giảm từ 5% đến 30% hưởng trợ cấp một lần, từ 31% trở lên hưởng trợ cấp hằng tháng.

Ba Trường Hợp Không Được Hưởng

Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động trong ba trường hợp:

Trường hợpGiải thích
Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao độngĐánh nhau vì mâu thuẫn cá nhân tại nơi làm việc
Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thânHành vi tự gây thương tích có chủ đích
Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luậtTai nạn xảy ra khi đang trong tình trạng sử dụng chất cấm

Phân biệt ba khái niệm hay bị nhầm.

Không hoàn toàn do lỗi của người lao động thì được bồi thường đầy đủ theo khoản 4 Điều 38.

Do lỗi của chính người lao động thì vẫn được trợ cấp ít nhất 40% theo khoản 5 Điều 38. Ví dụ: không tuân thủ quy trình an toàn, bất cẩn trong thao tác.

Thuộc ba trường hợp tại Điều 40 thì không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động.

Ranh giới giữa nhóm thứ hai và nhóm thứ ba rất quan trọng về tiền, và được xác định chủ yếu qua biên bản điều tra tai nạn lao động.

Quy Trình Xử Lý Khi Xảy Ra Tai Nạn

Bước 1: Sơ cứu, cấp cứu và tạm ứng chi phí

Người sử dụng lao động phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu và tạm ứng chi phí điều trị. Đây là nghĩa vụ ngay lập tức, không chờ xác định lỗi hay chờ kết quả điều tra.

Bước 2: Khai báo tai nạn lao động

Thực hiện khai báo theo Điều 34 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Với tai nạn lao động chết người hoặc làm nhiều người bị thương nặng, việc khai báo phải thực hiện ngay. Đây là bước mà nhiều doanh nghiệp bỏ qua khi muốn tự thỏa thuận với gia đình nạn nhân.

Bước 3: Điều tra và lập biên bản

Việc điều tra thực hiện theo Điều 35. Biên bản điều tra tai nạn lao động là tài liệu quyết định: nó xác định nguyên nhân và yếu tố lỗi, từ đó quyết định người lao động được bồi thường đầy đủ hay chỉ được trợ cấp 40%.

Bước 4: Giám định mức suy giảm khả năng lao động

Người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi giám định tại Hội đồng giám định y khoa. Kết quả giám định quyết định mức tiền của cả hai nguồn.

Bước 5: Thực hiện bồi thường, trợ cấp trong 05 ngày

Kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa, hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra công bố biên bản với vụ chết người.

Bước 6: Lập hồ sơ hưởng chế độ từ quỹ bảo hiểm

Khoản 9 Điều 38 quy định đây là nghĩa vụ của người sử dụng lao động, không phải việc người lao động tự làm. Hồ sơ theo Điều 57 với tai nạn lao động và Điều 58 với bệnh nghề nghiệp.

Bước 7: Sắp xếp công việc phù hợp

Sau khi điều trị và phục hồi chức năng, nếu người lao động còn tiếp tục làm việc thì người sử dụng lao động phải sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa.

Có Nên Thuê Luật Sư Không

Với tai nạn nhẹ, doanh nghiệp chủ động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và hai bên không tranh chấp thì không cần luật sư.

Nên có luật sư trong bốn tình huống.

Khi có tranh cãi về yếu tố lỗi. Chênh lệch giữa bồi thường đầy đủ và trợ cấp 40% là hơn hai lần rưỡi số tiền. Biên bản điều tra tai nạn lao động là tài liệu quyết định, và việc tham gia vào quá trình điều tra, đưa ra ý kiến kịp thời có ảnh hưởng trực tiếp đến kết luận.

Khi doanh nghiệp đề nghị thỏa thuận một khoản trọn gói. Cần tính đúng tổng số tiền người lao động được hưởng từ cả hai nguồn, cộng chi phí y tế và tiền lương trong thời gian điều trị, trước khi quyết định có chấp nhận hay không. Thỏa thuận rồi thì rất khó đòi thêm.

Khi tai nạn có hậu quả nghiêm trọng hoặc chết người. Ngoài chế độ theo Luật An toàn, vệ sinh lao động, còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự, và trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm quy định về an toàn lao động thì có thể phát sinh trách nhiệm hình sự. Đây là những vấn đề cần đánh giá song song.

Khi doanh nghiệp muốn rà soát trước khi xảy ra sự cố. Với ngành nghề có nguy cơ cao, việc rà soát hồ sơ an toàn lao động, quy trình huấn luyện, biên bản kiểm định thiết bị trước khi có tai nạn có giá trị hơn nhiều so với xử lý sau. Những hồ sơ này quyết định doanh nghiệp có bị xác định là có lỗi hay không.

5 Sai Lầm Thường Gặp

Sai lầm 1: nghĩ đóng bảo hiểm là hết trách nhiệm

Trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bồi thường từ người sử dụng lao động là hai khoản độc lập. Điều 38 quy định nghĩa vụ riêng của doanh nghiệp và không có điều khoản nào cho phép khấu trừ phần đã được quỹ chi trả.

Sai lầm 2: tính bồi thường trên mức lương cơ bản

Khoản 10 Điều 38 quy định tiền lương làm cơ sở bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Doanh nghiệp chỉ lấy lương cơ bản ghi trong hợp đồng sẽ tính thiếu, và đây là điểm người lao động hoàn toàn có căn cứ để yêu cầu tính lại.

Sai lầm 3: không khai báo, tự thỏa thuận riêng

Doanh nghiệp đề nghị đưa một khoản tiền và không lập hồ sơ. Hệ quả kép: người lao động mất quyền hưởng chế độ từ quỹ bảo hiểm, và doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ khai báo, điều tra. Nếu sau này người lao động khởi kiện, việc không có hồ sơ khiến doanh nghiệp ở thế bất lợi.

Sai lầm 4: người lao động ký giấy nhận đủ mà chưa tính hết

Ký biên bản xác nhận đã nhận đủ và không khiếu nại gì thêm, trong khi mới nhận một phần. Trước khi ký bất kỳ giấy tờ nào có nội dung này, cần liệt kê đủ các khoản: chi phí y tế, tiền lương thời gian điều trị, bồi thường hoặc trợ cấp từ doanh nghiệp, và trợ cấp từ quỹ bảo hiểm.

Sai lầm 5: doanh nghiệp không lập hồ sơ hưởng chế độ cho người lao động

Khoản 9 Điều 38 quy định việc lập hồ sơ hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Doanh nghiệp để mặc người lao động tự lo là làm sai nghĩa vụ, và người lao động có quyền yêu cầu.

Câu Hỏi Thường Gặp

Bị tai nạn lao động được nhận tiền từ mấy nguồn?

Hai nguồn độc lập và được hưởng cả hai. Nguồn thứ nhất từ người sử dụng lao động theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, gồm chi phí y tế, tiền lương trong thời gian điều trị, và khoản bồi thường hoặc trợ cấp. Nguồn thứ hai từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo Điều 48 đến Điều 55. Không có quy định nào cho phép khấu trừ nguồn này vào nguồn kia.

Mức bồi thường tai nạn lao động tính thế nào?

Theo khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động: ít nhất 1,5 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 5% đến 10%; từ 11% đến 80% thì cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương; ít nhất 30 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 81% trở lên hoặc người lao động chết. Cách tính nhanh cho mức 11-80%: lấy tỷ lệ suy giảm trừ 10, nhân 0,4, cộng 1,5.

Tai nạn do lỗi của người lao động thì có được gì không?

Có. Khoản 5 Điều 38 quy định người sử dụng lao động phải trợ cấp một khoản ít nhất bằng 40% mức bồi thường tại khoản 4 với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng. Ngoài ra doanh nghiệp vẫn phải thanh toán chi phí y tế và trả đủ tiền lương trong thời gian điều trị. Chỉ ba trường hợp tại Điều 40 mới không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động.

Ba trường hợp nào không được hưởng chế độ từ doanh nghiệp?

Theo Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015: tai nạn do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; hoặc do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Tiền lương làm cơ sở tính bồi thường gồm những gì?

Khoản 10 Điều 38 quy định tiền lương làm cơ sở tính bồi thường, trợ cấp và tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Doanh nghiệp chỉ tính trên mức lương cơ bản ghi trong hợp đồng là tính thiếu.

Doanh nghiệp phải bồi thường trong bao lâu?

Khoản 7 Điều 38 quy định thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động, hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra đối với vụ tai nạn lao động chết người.

Trợ cấp một lần từ quỹ bảo hiểm là bao nhiêu?

Theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tính theo mức tham chiếu tại thời điểm hưởng. Với mức tham chiếu 2,53 triệu đồng áp dụng từ 01/07/2026, người suy giảm 5% khả năng lao động nhận 12.650.000 đồng, sau đó cứ suy giảm thêm 1% được cộng thêm 1.265.000 đồng. Người suy giảm từ 5% đến 30% hưởng trợ cấp một lần, từ 31% trở lên hưởng trợ cấp hằng tháng.

Ai có nghĩa vụ lập hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm?

Người sử dụng lao động. Khoản 9 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Doanh nghiệp để mặc người lao động tự lo là không thực hiện đúng nghĩa vụ.

Người lao động chết do tai nạn lao động thì thân nhân được gì?

Từ người sử dụng lao động: ít nhất 30 tháng tiền lương theo điểm b khoản 4 Điều 38, nếu tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động. Từ quỹ bảo hiểm: trợ cấp một lần theo khoản 1 Điều 53, tương đương 91.080.000 đồng theo mức tham chiếu 2,53 triệu đồng áp dụng từ 01/07/2026. Ngoài ra còn có thể phát sinh các chế độ khác theo pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Kết Luận

Điều quan trọng nhất cần nhớ về tai nạn lao động: có hai nguồn tiền, không phải một. Nhận tiền từ quỹ bảo hiểm không có nghĩa doanh nghiệp đã hết trách nhiệm, và ngược lại doanh nghiệp bồi thường rồi không làm mất quyền hưởng chế độ bảo hiểm của người lao động.

Điểm quyết định số tiền là hai tài liệu: biên bản điều tra tai nạn lao động xác định yếu tố lỗi, và kết luận giám định y khoa xác định mức suy giảm. Cả hai đều cần được xử lý cẩn thận ngay từ đầu, vì rất khó thay đổi về sau.

Ba việc nên làm ngay khi xảy ra tai nạn. Bảo đảm việc khai báo và điều tra được thực hiện đúng quy định, không tự thỏa thuận ngoài hồ sơ. Liệt kê đủ bốn khoản tiền trước khi ký bất kỳ giấy tờ nào: chi phí y tế, tiền lương thời gian điều trị, bồi thường hoặc trợ cấp từ doanh nghiệp, trợ cấp từ quỹ bảo hiểm. Xác định đúng tiền lương làm cơ sở tính, gồm cả phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

N.H Legal - Tư Vấn Chế Độ Tai Nạn Lao Động

  • Tính đúng tổng số tiền người lao động được hưởng từ cả hai nguồn trước khi thỏa thuận
  • Tham gia quá trình điều tra tai nạn lao động, bảo vệ quan điểm về yếu tố lỗi
  • Hỗ trợ yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo Điều 38
  • Rà soát hồ sơ an toàn lao động cho doanh nghiệp ngành nghề có nguy cơ cao
  • Đại diện giải quyết tranh chấp về bồi thường tai nạn lao động

Hotline/Zalo: 0777 516 000
Website: nhlegal.com.vn
Dịch vụ: Lao động & Nhân sự

Người biên soạn: Đội ngũ N.H Legal
Người kiểm duyệt: Luật sư Đỗ Thị Hương - Thạc sĩ Nguyễn Xuân Nhất
Đơn vị: Công ty Luật TNHH N.H Legal | Website: nhlegal.com.vn
Ngày cập nhật: 10/08/2026

Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm cập nhật, không phải tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Các mức trợ cấp từ quỹ bảo hiểm tính theo mức tham chiếu do Chính phủ quyết định và thay đổi khi mức lương cơ sở điều chỉnh, cần kiểm tra mức áp dụng tại thời điểm hưởng. Vui lòng liên hệ N.H Legal để được tư vấn.

Lưu ý pháp lý: Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm đăng/cập nhật, không phải tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể đã được sửa đổi, bổ sung. Vui lòng liên hệ N.H Legal để được tư vấn theo tình huống của bạn.
Chia sẻ:Facebook
Gọi ngay Nhắn Zalo
Gọi Zalo Đặt lịch