Từ 01/7/2026 sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 07 tháng nhưng trợ cấp vẫn tính 06 tháng. Ba khoản tiền, chế độ lao động nam và ngày nghỉ việc riêng Điều 115.
Một nhân viên hành chính dự sinh con thứ hai vào tháng 10 năm nay. Chị đọc tin từ ngày 01/7/2026 lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 07 tháng, nên lên kế hoạch tài chính cho bảy tháng không đi làm.
Kế hoạch đó thiếu một tháng tiền. Thời gian nghỉ tăng lên 07 tháng theo Luật Dân số 2025, nhưng trợ cấp thai sản do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả vẫn tính theo 06 tháng. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã trả lời rõ điểm này trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 22/5/2026 khi một người lao động ở Bắc Ninh hỏi đúng câu hỏi đó.
Phía doanh nghiệp cũng đang lúng túng ở một điểm khác: đến nay Chính phủ chưa ban hành hướng dẫn về điều kiện và thủ tục áp dụng quy định 07 tháng, dù quy định đã có hiệu lực.
Thời gian nghỉ và tiền được nhận là hai chuyện khác nhau, do hai văn bản khác nhau điều chỉnh. Nhầm hai thứ này là nhầm cả kế hoạch tài chính của cả gia đình trong một năm.
Nội dung bài viết
- Trả lời nhanh
- Bảng tóm tắt nhanh
- Những tình huống thực tế thường gặp
- Điểm mới từ 01/7/2026: nghỉ 07 tháng khi sinh con thứ hai
- Căn cứ pháp lý
- Điều kiện hưởng chế độ thai sản
- Ba khoản tiền lao động nữ được nhận
- Chế độ dành cho lao động nam
- Nghỉ việc riêng theo Điều 115
- Có nên thuê luật sư không
- 5 sai lầm thường gặp
- Câu hỏi thường gặp
- Kết luận
Trả Lời Nhanh
Từ ngày 01/7/2026, lao động nữ sinh con được nghỉ thai sản 06 tháng; sinh con thứ hai được nghỉ 07 tháng, theo Luật Dân số 2025 sửa đổi khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019. Thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai trở đi, mỗi con được nghỉ thêm 01 tháng.
Tuy nhiên trợ cấp thai sản từ quỹ bảo hiểm xã hội vẫn tính theo 06 tháng. Đây là điểm Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xác nhận, và Chính phủ chưa ban hành hướng dẫn về điều kiện, thủ tục.
Điều kiện hưởng: đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
Ba khoản tiền: trợ cấp thai sản hằng tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương đóng của 06 tháng gần nhất; trợ cấp một lần 5.060.000 đồng cho mỗi con; và dưỡng sức sau thai sản 759.000 đồng một ngày nếu đủ điều kiện.
Về nghỉ việc riêng, Điều 115 Bộ luật Lao động 2019 cho nghỉ hưởng nguyên lương 03 ngày khi bản thân kết hôn, 01 ngày khi con kết hôn, và 03 ngày khi người thân thuộc diện quy định qua đời.
Bảng Tóm Tắt Nhanh
| Vấn đề | Nội dung |
|---|---|
| Nghỉ thai sản, sinh con thứ nhất | 06 tháng |
| Nghỉ thai sản, sinh con thứ hai | 07 tháng, từ 01/7/2026 |
| Nghỉ trước khi sinh | Không quá 02 tháng |
| Sinh đôi trở lên | Từ con thứ hai trở đi, mỗi con nghỉ thêm 01 tháng |
| Tiền trợ cấp thai sản | Vẫn tính theo 06 tháng, kể cả khi nghỉ 07 tháng |
| Điều kiện hưởng | Đóng từ đủ 06 tháng trong 12 tháng liền kề trước khi sinh |
| Mức trợ cấp hằng tháng | 100% bình quân tiền lương đóng của 06 tháng gần nhất |
| Trợ cấp một lần khi sinh con | 5.060.000 đồng mỗi con, từ 01/7/2026 |
| Dưỡng sức sau thai sản | 759.000 đồng một ngày, từ 01/7/2026 |
| Lao động nam, vợ sinh thường | 05 ngày làm việc |
| Lao động nam, vợ sinh con thứ hai | 10 ngày làm việc, từ 01/7/2026 |
| Thời hạn nam phải nghỉ | Trong 60 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con |
| Nghỉ việc riêng hưởng lương | 03 ngày khi kết hôn, 01 ngày khi con kết hôn, 03 ngày khi người thân qua đời |
Những Tình Huống Thực Tế Thường Gặp
Lập kế hoạch tài chính theo 07 tháng nhưng chỉ nhận tiền 06 tháng. Tình huống phổ biến nhất hiện nay, vì thông tin về quy định mới lan nhanh hơn thông tin về giới hạn của nó.
Doanh nghiệp không biết xử lý tháng thứ bảy thế nào. Người lao động có quyền nghỉ, nhưng quỹ bảo hiểm xã hội không chi trả tháng đó, và chưa có hướng dẫn về thủ tục. Doanh nghiệp phải tự quyết định cách ghi nhận, báo giảm và tính công.
Nghỉ việc trước khi sinh rồi mới tính đến chế độ. Điều kiện là đóng từ đủ 06 tháng trong 12 tháng liền kề trước khi sinh. Người đã nghỉ việc vẫn có thể đủ điều kiện nếu khoảng thời gian đóng trước đó đạt yêu cầu, nhưng cần đối chiếu cụ thể.
Lao động nam để quá hạn mới xin nghỉ. Ngày bắt đầu nghỉ phải nằm trong 60 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con. Quá mốc này thì mất quyền, dù vẫn còn ngày nghỉ chưa dùng.
Doanh nghiệp áp dụng sai ngày nghỉ việc riêng. Điều 115 phân biệt rõ nhóm được hưởng nguyên lương và nhóm không hưởng lương. Nhiều nội quy lao động gộp chung hoặc cắt bớt so với luật.
Điểm Mới Từ 01/7/2026: Nghỉ 07 Tháng Khi Sinh Con Thứ Hai
Đây là thay đổi lớn nhất về chế độ thai sản trong nhiều năm, và cũng là điểm đang gây hiểu nhầm nhiều nhất.
Nội dung quy định
Khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
"Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng."
"Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng."
Điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số 2025 cũng quy định lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con thứ hai.
Khoảng cách giữa thời gian nghỉ và tiền được nhận
Đây là điểm cần nắm trước khi lập kế hoạch tài chính. Quyền nghỉ 07 tháng được quy định trong Bộ luật Lao động. Trợ cấp thai sản do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả lại được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội 2024, và văn bản này chưa được sửa tương ứng.
Kết quả là người lao động nghỉ 07 tháng nhưng chỉ nhận trợ cấp cho 06 tháng. Tháng thứ bảy hiện chưa có nguồn chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội.
Trả lời của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 22/5/2026 nêu rõ hiện chưa có hướng dẫn của Chính phủ về điều kiện, thủ tục đối với trường hợp nghỉ thai sản 07 tháng, và khi có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ hướng dẫn thực hiện.
Doanh nghiệp nên xử lý thế nào trong lúc chờ hướng dẫn
Ba việc nên làm để không rơi vào thế bị động.
Ghi nhận quyền nghỉ đúng luật
Quyền nghỉ 07 tháng là quy định của Bộ luật Lao động đã có hiệu lực, không phụ thuộc vào việc quỹ bảo hiểm xã hội có chi trả hay không. Doanh nghiệp không được từ chối cho nghỉ với lý do chưa có hướng dẫn.
Thông tin minh bạch với người lao động về tháng thứ bảy
Nói rõ ngay từ đầu rằng tháng thứ bảy là thời gian nghỉ không có trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội, trừ khi doanh nghiệp có chính sách riêng. Việc này tránh tranh chấp khi người lao động phát hiện sau.
Cập nhật nội quy lao động và theo dõi văn bản hướng dẫn
Nội quy lao động soạn theo mốc 06 tháng cần được rà lại. Đồng thời theo dõi nghị định hướng dẫn Luật Dân số 2025 khi được ban hành, vì văn bản đó sẽ quy định điều kiện và thủ tục cụ thể.
Căn Cứ Pháp Lý
| Văn bản | Điều khoản | Nội dung |
|---|---|---|
| Luật Dân số 2025 | Điều 14, Điều 29 | Thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, sửa đổi Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, hiệu lực 01/7/2026 |
| Bộ luật Lao động 2019 | Điều 139 | Nghỉ thai sản |
| Bộ luật Lao động 2019 | Điều 115 | Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương |
| Bộ luật Lao động 2019 | Điều 137, Điều 140 | Bảo vệ thai sản và bảo đảm việc làm sau khi nghỉ thai sản |
| Luật Bảo hiểm xã hội 2024 | Điều 50, Điều 53 | Đối tượng và thời gian hưởng chế độ thai sản |
| Luật Bảo hiểm xã hội 2024 | Điều 59, Điều 60 | Mức hưởng trợ cấp thai sản, dưỡng sức sau thai sản |
| Nghị định 161/2026/NĐ-CP | Điều 3 | Mức tham chiếu 2.530.000 đồng từ 01/7/2026 |
Lưu ý khi tra cứu. Bộ luật Lao động 2019 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2025/QH15 và tiếp tục được sửa bởi Luật Dân số 2025. Nên dùng văn bản hợp nhất khi áp dụng, và kiểm tra xem nghị định hướng dẫn Luật Dân số 2025 đã được ban hành chưa.
Doanh nghiệp chưa biết xử lý tháng nghỉ thứ bảy thế nào? N.H Legal rà soát nội quy lao động và thiết kế quy trình ghi nhận nghỉ thai sản phù hợp với quy định mới. Hotline/Zalo: 0777 516 000.
Điều Kiện Hưởng Chế Độ Thai Sản
Với lao động nữ sinh con, điều kiện là đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
Ba điểm cần lưu ý khi tự kiểm tra.
Sáu tháng không bắt buộc liên tục. Chỉ cần tổng cộng đủ 06 tháng trong khoảng 12 tháng liền kề trước khi sinh. Người có tháng gián đoạn vẫn có thể đủ điều kiện.
Mốc đếm là ngày sinh con, không phải ngày bắt đầu nghỉ. Nhiều người tính nhầm từ ngày nộp đơn xin nghỉ, dẫn đến kết luận sai về việc mình có đủ điều kiện hay không.
Nghỉ việc trước khi sinh không đương nhiên mất quyền. Nếu trong 12 tháng liền kề trước khi sinh vẫn có đủ 06 tháng đóng, người lao động vẫn có thể được hưởng dù đã chấm dứt hợp đồng. Đây là trường hợp cần đối chiếu cụ thể theo hồ sơ.
Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 còn quy định các trường hợp riêng cho lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, với điều kiện tương tự.
Ba Khoản Tiền Lao Động Nữ Được Nhận
| Khoản tiền | Mức hưởng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Trợ cấp thai sản hằng tháng | 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng của 06 tháng gần nhất | Tính cho 06 tháng, kể cả khi được nghỉ 07 tháng |
| Trợ cấp một lần khi sinh con | 5.060.000 đồng cho mỗi con | Bằng 02 lần mức tham chiếu 2.530.000 đồng, từ 01/7/2026 |
| Dưỡng sức sau thai sản | 759.000 đồng một ngày | Bằng 30% mức tham chiếu, áp dụng nếu đủ điều kiện |
Ví dụ tính cụ thể
Một lao động nữ có mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng gần nhất là 15 triệu đồng một tháng, sinh con thứ hai vào tháng 10/2026, sinh thường một con.
| Khoản | Cách tính | Số tiền |
|---|---|---|
| Trợ cấp thai sản | 15.000.000 x 6 tháng | 90.000.000 đồng |
| Trợ cấp một lần | 2 x 2.530.000 | 5.060.000 đồng |
| Tổng nhận từ quỹ BHXH | 95.060.000 đồng | |
| Tháng nghỉ thứ bảy | Không có trợ cấp từ quỹ BHXH | 0 đồng |
Nếu doanh nghiệp không có chính sách hỗ trợ riêng, tháng thứ bảy là tháng nghỉ không có thu nhập từ hai nguồn chính. Khoản hụt so với kỳ vọng là 15 triệu đồng, tương đương một tháng lương.
Về dưỡng sức sau thai sản. Đây là chế độ áp dụng khi sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian nghỉ thai sản, với số ngày và điều kiện cụ thể theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Không phải mọi trường hợp đều được, và người lao động cần chủ động đề nghị chứ khoản này không tự động phát sinh.
Chế Độ Dành Cho Lao Động Nam
Khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định thời gian nghỉ của lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con.
| Trường hợp | Thời gian nghỉ |
|---|---|
| Vợ sinh thường một con | 05 ngày làm việc |
| Vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi | 07 ngày làm việc |
| Vợ sinh đôi | 10 ngày làm việc |
| Vợ sinh ba trở lên | 10 ngày làm việc, cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc |
| Vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật | 14 ngày làm việc |
| Vợ sinh con thứ hai, theo Luật Dân số 2025 | 10 ngày làm việc, từ 01/7/2026 |
Mốc 60 ngày là điểm hay bị bỏ lỡ nhất. Ngày bắt đầu nghỉ phải nằm trong khoảng 60 ngày kể từ ngày vợ sinh con. Nếu nghỉ nhiều lần thì ngày bắt đầu của lần cuối cùng cũng phải nằm trong 60 ngày đầu.
Đây là điểm được nới rộng so với quy định cũ. Lao động nam có thể chia nhỏ thời gian nghỉ thay vì phải nghỉ liền một đợt, miễn đợt cuối bắt đầu trong 60 ngày.
Về quy định 10 ngày cho trường hợp vợ sinh con thứ hai tại Luật Dân số 2025: giống như quy định 07 tháng dành cho lao động nữ, điều kiện và thủ tục cụ thể còn chờ hướng dẫn của Chính phủ. Doanh nghiệp nên ghi nhận quyền nghỉ và theo dõi văn bản hướng dẫn để xử lý phần trợ cấp.
Nghỉ Việc Riêng Theo Điều 115
Điều 115 Bộ luật Lao động 2019 chia thành ba nhóm với hậu quả về lương khác nhau.
Nhóm 1: nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương
| Sự kiện | Số ngày |
|---|---|
| Bản thân kết hôn | 03 ngày |
| Con đẻ, con nuôi kết hôn | 01 ngày |
| Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi chết | 03 ngày |
| Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng chết | 03 ngày |
| Vợ hoặc chồng chết | 03 ngày |
| Con đẻ, con nuôi chết | 03 ngày |
Người lao động phải thông báo với người sử dụng lao động về việc nghỉ trong các trường hợp này.
Nhóm 2: nghỉ không hưởng lương 01 ngày, có thông báo
- Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết
- Cha hoặc mẹ kết hôn
- Anh, chị, em ruột kết hôn
Nhóm này người lao động chỉ cần thông báo, không cần sự đồng ý của người sử dụng lao động.
Nhóm 3: nghỉ không hưởng lương theo thỏa thuận
Ngoài hai nhóm trên, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. Nhóm này khác hai nhóm trước ở chỗ cần có sự đồng ý của doanh nghiệp, không phải quyền đơn phương.
Sự khác biệt giữa "thông báo" và "thỏa thuận" là điểm pháp lý quan trọng. Với nhóm 1 và nhóm 2, người lao động có quyền nghỉ và chỉ phải thông báo. Doanh nghiệp từ chối cho nghỉ trong các trường hợp này là làm sai luật.
Với nhóm 3 thì ngược lại, người lao động tự ý nghỉ khi chưa được đồng ý có thể bị xem là nghỉ không có lý do chính đáng.
Cần lưu ý các ngày nghỉ tại Điều 115 độc lập với ngày nghỉ hằng năm. Doanh nghiệp trừ vào phép năm khi người lao động nghỉ cưới hoặc nghỉ tang là làm sai, vì đây là hai chế độ khác nhau.
Có Nên Thuê Luật Sư Không
Với trường hợp thai sản thông thường, hồ sơ đủ và doanh nghiệp làm đúng thủ tục, thì không cần luật sư.
Nên có luật sư trong bốn tình huống.
Khi doanh nghiệp cần cập nhật nội quy lao động theo quy định mới. Quy định 07 tháng và 10 ngày mới có hiệu lực, chưa có hướng dẫn thủ tục. Nội quy soạn sai hoặc bỏ trống điểm này sẽ tạo tranh chấp khi có ca đầu tiên.
Khi người lao động bị từ chối chế độ. Từ chối vì lý do chưa đủ tháng đóng, hoặc vì doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội dẫn đến hồ sơ không được duyệt, là hai tình huống có hướng xử lý khác nhau và cần đánh giá riêng.
Khi có dấu hiệu bị đối xử bất lợi vì mang thai hoặc nghỉ thai sản. Bộ luật Lao động 2019 có quy định bảo vệ thai sản tại Điều 137 và bảo đảm việc làm sau khi nghỉ thai sản tại Điều 140. Việc bị điều chuyển, giảm lương hoặc chấm dứt hợp đồng trong giai đoạn này cần được đánh giá kỹ.
Khi doanh nghiệp xây dựng chính sách phúc lợi riêng cho tháng thứ bảy. Nhiều doanh nghiệp muốn hỗ trợ một phần thu nhập cho tháng này để giữ nhân sự. Cách thiết kế khoản hỗ trợ ảnh hưởng đến nghĩa vụ đóng bảo hiểm và thuế, nên cần cân nhắc trước khi ban hành.
5 Sai Lầm Thường Gặp
Sai lầm 1: nghĩ nghỉ 07 tháng thì nhận tiền 07 tháng
Thời gian nghỉ do Bộ luật Lao động quy định, tiền trợ cấp do Luật Bảo hiểm xã hội quy định. Hiện trợ cấp vẫn tính theo 06 tháng, nên tháng thứ bảy là tháng nghỉ không có trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội.
Sai lầm 2: doanh nghiệp từ chối cho nghỉ vì chưa có hướng dẫn
Quyền nghỉ đã có hiệu lực từ 01/7/2026. Việc chưa có nghị định hướng dẫn về điều kiện, thủ tục không làm mất quyền nghỉ của người lao động. Từ chối với lý do này là làm sai.
Sai lầm 3: lao động nam để quá 60 ngày mới xin nghỉ
Ngày bắt đầu nghỉ phải nằm trong 60 ngày kể từ ngày vợ sinh con. Nhiều người chờ vợ hết thời gian ở cữ hoặc chờ hết việc gấp ở công ty rồi mới xin nghỉ, khi đó đã quá hạn.
Sai lầm 4: trừ ngày nghỉ cưới, nghỉ tang vào phép năm
Nghỉ việc riêng theo Điều 115 và nghỉ hằng năm là hai chế độ độc lập. Doanh nghiệp trừ chéo giữa hai chế độ này là làm sai, và khoản chênh lệch sẽ phải trả lại khi bị phát hiện.
Sai lầm 5: không đề nghị chế độ dưỡng sức sau thai sản
Khoản này không tự động phát sinh. Người lao động đủ điều kiện mà không đề nghị thì không được nhận, và thường chỉ biết khi đã quá thời điểm.
Câu Hỏi Thường Gặp
Sinh con thứ hai được nghỉ thai sản bao nhiêu tháng?
Từ ngày 01/7/2026 là 07 tháng, theo Luật Dân số 2025 sửa đổi khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019. Sinh con thứ nhất vẫn là 06 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng trong cả hai trường hợp.
Nghỉ 07 tháng thì có được nhận tiền 07 tháng không?
Không. Trợ cấp thai sản từ quỹ bảo hiểm xã hội hiện vẫn tính theo 06 tháng. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xác nhận điểm này và cho biết chưa có hướng dẫn của Chính phủ về điều kiện, thủ tục đối với quy định 07 tháng. Tháng thứ bảy là tháng nghỉ không có trợ cấp từ quỹ, trừ khi doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ riêng.
Đóng bảo hiểm xã hội bao lâu thì được hưởng chế độ thai sản?
Lao động nữ sinh con phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con. Sáu tháng này không bắt buộc phải liên tục, chỉ cần tổng cộng đủ trong khoảng 12 tháng liền kề.
Trợ cấp một lần khi sinh con năm 2026 là bao nhiêu?
Từ ngày 01/7/2026 là 5.060.000 đồng cho mỗi con, bằng 02 lần mức tham chiếu 2.530.000 đồng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Khoản này độc lập với trợ cấp thai sản hằng tháng và được nhận thêm.
Vợ sinh con, chồng được nghỉ mấy ngày?
Theo khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024: 05 ngày làm việc khi vợ sinh thường một con; 07 ngày khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày khi vợ sinh đôi; 14 ngày khi sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật. Riêng trường hợp vợ sinh con thứ hai, Luật Dân số 2025 quy định 10 ngày làm việc từ 01/7/2026.
Chồng phải nghỉ trong thời hạn nào?
Ngày bắt đầu nghỉ phải nằm trong khoảng 60 ngày kể từ ngày vợ sinh con. Nếu nghỉ làm nhiều lần thì ngày bắt đầu của lần cuối cùng cũng phải nằm trong 60 ngày đầu. Quá mốc này thì mất quyền hưởng, kể cả khi chưa dùng hết số ngày.
Nghỉ cưới được mấy ngày và có bị trừ phép năm không?
Bản thân kết hôn được nghỉ 03 ngày hưởng nguyên lương, con đẻ hoặc con nuôi kết hôn được nghỉ 01 ngày, theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật Lao động 2019. Đây là chế độ độc lập với nghỉ hằng năm, doanh nghiệp không được trừ vào phép năm.
Ông bà mất thì được nghỉ mấy ngày?
Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết thì người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động, theo khoản 2 Điều 115 Bộ luật Lao động 2019. Khác với nhóm tại khoản 1, ngày nghỉ này không hưởng lương. Người lao động muốn nghỉ dài hơn thì thỏa thuận với doanh nghiệp theo khoản 3.
Nghỉ việc trước khi sinh có còn được hưởng chế độ thai sản không?
Có thể vẫn được, nếu trong 12 tháng liền kề trước khi sinh con người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên. Điều kiện tính theo mốc ngày sinh con, không phải ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Cần đối chiếu quá trình đóng cụ thể để xác định.
Kết Luận
Quy định nghỉ thai sản 07 tháng khi sinh con thứ hai là chính sách có lợi cho người lao động, nhưng đang ở giai đoạn chuyển tiếp: quyền nghỉ đã có hiệu lực trong khi cơ chế chi trả và thủ tục chưa theo kịp.
Với người lao động, điều cần nhớ nhất là thời gian nghỉ và tiền được nhận không bằng nhau. Kế hoạch tài chính nên tính theo 06 tháng trợ cấp, không phải 07.
Với doanh nghiệp, ba việc nên làm ngay: rà lại nội quy lao động xem đã cập nhật mốc 07 tháng chưa; kiểm tra bảng theo dõi ngày nghỉ việc riêng có đang trừ nhầm vào phép năm không; và chuẩn bị cách xử lý minh bạch cho tháng nghỉ thứ bảy trước khi có ca đầu tiên phát sinh.
N.H Legal - Tư Vấn Chế Độ Thai Sản Và Ngày Nghỉ
- Rà soát và cập nhật nội quy lao động theo quy định nghỉ thai sản mới từ 01/7/2026
- Tư vấn điều kiện hưởng và tính toán các khoản trợ cấp thai sản cho từng hồ sơ
- Hỗ trợ người lao động khi bị từ chối chế độ hoặc bị đối xử bất lợi vì mang thai
- Thiết kế chính sách phúc lợi cho tháng nghỉ thứ bảy phù hợp về thuế và bảo hiểm
- Đại diện giải quyết tranh chấp liên quan đến chế độ thai sản và ngày nghỉ
Hotline/Zalo: 0777 516 000
Website: nhlegal.com.vn
Dịch vụ: Lao động & Nhân sự
Người biên soạn: Đội ngũ N.H Legal
Người kiểm duyệt: Luật sư Đỗ Thị Hương - Thạc sĩ Nguyễn Xuân Nhất
Đơn vị: Công ty Luật TNHH N.H Legal | Website: nhlegal.com.vn
Ngày cập nhật: 11/08/2026
Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm cập nhật, không phải tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Quy định nghỉ thai sản 07 tháng theo Luật Dân số 2025 hiện chưa có nghị định hướng dẫn về điều kiện và thủ tục, nội dung có thể thay đổi khi văn bản hướng dẫn được ban hành. Bộ luật Lao động 2019 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần, nên tra cứu văn bản hợp nhất khi áp dụng. Vui lòng liên hệ N.H Legal để được tư vấn.




