Chuyển tới nội dung
Trang chủTin tứcBất Khả Kháng Và Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản: Hai Chế Định Khác Nhau Mà Doanh Nghiệp Hay Viện Dẫn Nhầm
Hợp đồng & Giao dịch17/08/2026·29 phút đọc

Bất Khả Kháng Và Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản: Hai Chế Định Khác Nhau Mà Doanh Nghiệp Hay Viện Dẫn Nhầm

Bất khả kháng theo Điều 156 và hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 là hai chế định khác nhau. Năm điều kiện, các mốc 05 tháng, 08 tháng, 10 ngày và cái bẫy ở khoản 4 Điều 420.

Bất Khả Kháng Và Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản: Hai Chế Định Khác Nhau Mà Doanh Nghiệp Hay Viện Dẫn Nhầm
Tóm tắt nhanh

Bất khả kháng theo Điều 156 và hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 là hai chế định khác nhau. Năm điều kiện, các mốc 05 tháng, 08 tháng, 10 ngày và cái bẫy ở khoản 4 Điều 420.

Một nhà thầu ký hợp đồng cung cấp vật liệu với đơn giá cố định cho cả năm. Sáu tháng sau, giá nguyên liệu đầu vào tăng gần gấp đôi. Tiếp tục giao hàng nghĩa là lỗ nặng ở từng chuyến.

Nhà thầu gửi công văn viện dẫn bất khả kháng và đề nghị dừng hợp đồng. Bên mua bác bỏ, và họ có lý ở điểm này: giá tăng không làm cho việc giao hàng trở nên không thể thực hiện được, nó chỉ làm việc đó trở nên đắt hơn.

Nhà thầu thua ở chỗ chọn sai chế định, không phải ở chỗ không có lý. Tình huống đó thuộc về hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015, một chế định có điều kiện riêng, quy trình riêng và hậu quả hoàn toàn khác.

Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất trong toàn bộ nhóm điều khoản về rủi ro. Và nó tốn kém, vì viện dẫn sai chế định thường đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào thế vi phạm hợp đồng.

Bất khả kháng trả lời câu hỏi "tôi không làm được". Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trả lời câu hỏi "tôi vẫn làm được nhưng làm thì sập". Hai câu hỏi khác nhau thì hai con đường pháp lý khác nhau.

Trả Lời Nhanh

Bất khả kháng theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước đượckhông thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Hậu quả theo khoản 2 Điều 351 là bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự.

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 là chế định khác. Việc thực hiện hợp đồng vẫn khả thi nhưng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng. Hậu quả không phải miễn trách nhiệm, mà là quyền yêu cầu đàm phán lại, và nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng.

Giá nguyên liệu tăng, tỷ giá biến động, chi phí đội lên thường không phải bất khả kháng, vì chúng không làm cho việc thực hiện trở nên không thể. Nhóm này thuộc phạm vi Điều 420.

Ba mốc thời hạn bắt buộc trong hợp đồng thương mại. Theo Điều 296 Luật Thương mại 2005, thời hạn thực hiện được kéo dài nhưng không quá 05 tháng với hợp đồng có thời hạn giao hàng đến 12 tháng, và không quá 08 tháng với hợp đồng trên 12 tháng. Bên từ chối thực hiện phải thông báo trong không quá 10 ngày kể từ khi hết thời hạn đó.

Bảng Tóm Tắt Nhanh

Vấn đềNội dung
Định nghĩa bất khả khángKhách quan, không lường trước được, không khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp (khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015)
Hậu quả của bất khả khángKhông phải chịu trách nhiệm dân sự (khoản 2 Điều 351)
Trong hợp đồng thương mạiLà căn cứ miễn trách nhiệm theo Điều 294 Luật Thương mại 2005
Nghĩa vụ thông báoBắt buộc theo Điều 295 Luật Thương mại 2005. Không thông báo thì phải bồi thường
Kéo dài thời hạn tối đa05 tháng nếu thời hạn giao hàng đến 12 tháng; 08 tháng nếu trên 12 tháng (Điều 296)
Thời hạn thông báo từ chốiKhông quá 10 ngày kể từ khi hết thời hạn nêu trên
Hoàn cảnh thay đổi cơ bảnCần đủ 05 điều kiện tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015
Hậu quả của hoàn cảnh thay đổiQuyền yêu cầu đàm phán lại, không phải quyền dừng hợp đồng
Vai trò của Tòa ánCó thể chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng. Chỉ sửa đổi khi việc chấm dứt gây thiệt hại lớn hơn
Trong khi đàm phán, chờ Tòa ánCác bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (khoản 4 Điều 420)
Giá nguyên liệu tăng vọtThường không phải bất khả kháng. Có thể thuộc phạm vi Điều 420

Những Tình Huống Thực Tế Thường Gặp

Viện dẫn bất khả kháng cho việc chi phí tăng

Giá nguyên liệu tăng, tỷ giá biến động, chi phí vận chuyển đội lên. Doanh nghiệp gửi công văn viện dẫn bất khả kháng và dừng thực hiện. Kết quả thường là bị coi là bên vi phạm hợp đồng, vì việc thực hiện vẫn khả thi về mặt vật lý.

Có sự kiện thật nhưng không thông báo kịp

Sự kiện đủ điều kiện là bất khả kháng, nhưng doanh nghiệp xử lý nội bộ vài tuần rồi mới báo cho đối tác. Điều 295 Luật Thương mại 2005 đặt ra nghĩa vụ thông báo, và việc không thông báo có hậu quả riêng về bồi thường.

Điều khoản bất khả kháng chỉ liệt kê mà không có cơ chế

Hợp đồng ghi một danh sách "thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh" rồi hết. Không có thời hạn thông báo, không có hậu quả trong thời gian sự kiện kéo dài, không có mốc để mỗi bên được chấm dứt. Khi sự việc xảy ra thật thì điều khoản đó không hướng dẫn được gì.

Tưởng rằng được dừng thực hiện trong khi đang đàm phán lại

Đây là hiểu nhầm gây thiệt hại lớn nhất trong nhóm Điều 420. Khoản 4 quy định rõ trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và trong khi Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ khi có thỏa thuận khác.

Sự kiện xảy ra trước khi ký hợp đồng

Ký hợp đồng khi tình hình bất lợi đã tồn tại và đã được biết đến rộng rãi, sau đó viện dẫn chính tình hình đó. Yếu tố "không thể lường trước được" khó thỏa mãn trong trường hợp này.

Phân Biệt Hai Chế Định

Đây là bảng nên đọc trước khi soạn bất kỳ công văn nào viện dẫn một trong hai chế định.

Tiêu chíBất khả khángHoàn cảnh thay đổi cơ bản
Căn cứKhoản 1 Điều 156, khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015
Câu hỏi cốt lõiViệc thực hiện có còn khả thi khôngViệc thực hiện có gây thiệt hại nghiêm trọng không
Trạng thái của nghĩa vụKhông thể thực hiện đượcVẫn thực hiện được nhưng rất bất lợi
Hậu quảMiễn trách nhiệm dân sựQuyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng
Có được dừng thực hiện khôngNghĩa vụ tạm thời không thực hiện đượcKhông. Vẫn phải tiếp tục thực hiện
Vai trò của Tòa ánXác định có phải bất khả kháng hay khôngCó thể sửa đổi nội dung hợp đồng
Ví dụ điển hìnhThiên tai làm hư hỏng toàn bộ hàng hóa; lệnh cấm khiến không thể giao hàngGiá nguyên liệu tăng đột biến; biến động chính sách làm chi phí tăng nhiều lần

Một cách kiểm tra nhanh: nếu ai đó đưa cho bạn thêm rất nhiều tiền thì bạn có thực hiện được hợp đồng không. Nếu câu trả lời là có, đó không phải bất khả kháng.

Đang cân nhắc gửi công văn viện dẫn bất khả kháng? N.H Legal đánh giá tình huống thuộc chế định nào, soạn văn bản đúng căn cứ và kiểm tra các mốc thời hạn trước khi anh chị gửi đi. Hotline/Zalo: 0777 516 000.

Căn Cứ Pháp Lý

Văn bảnĐiều khoảnNội dung
Bộ luật Dân sự 2015Khoản 1 Điều 156Định nghĩa sự kiện bất khả kháng: khách quan, không lường trước được, không khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép
Bộ luật Dân sự 2015Khoản 2 Điều 351Không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Bộ luật Dân sự 2015Khoản 1 Điều 420Năm điều kiện để được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Bộ luật Dân sự 2015Khoản 2, khoản 3 Điều 420Quyền yêu cầu đàm phán lại; quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng
Bộ luật Dân sự 2015Khoản 4 Điều 420Trong quá trình đàm phán và khi Tòa án giải quyết, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
Luật Thương mại 2005Điều 294Bất khả kháng là một trong các trường hợp miễn trách nhiệm
Luật Thương mại 2005Điều 295Nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm
Luật Thương mại 2005Điều 296Kéo dài thời hạn tối đa 05 tháng hoặc 08 tháng; thông báo từ chối trong không quá 10 ngày

Nguyên văn khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015:

"Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép."

Bất Khả Kháng: Ba Yếu Tố Phải Cùng Có

Thiếu một trong ba là không đủ. Đây là chỗ mà phần lớn công văn viện dẫn bất khả kháng bị bác.

Yếu tố 1: xảy ra một cách khách quan

Sự kiện nằm ngoài ý chí và khả năng chi phối của các bên. Khó khăn nội bộ như thiếu vốn, nhân sự nghỉ việc, nhà cung cấp phụ không giao hàng thường không thỏa mãn yếu tố này, vì chúng thuộc phạm vi doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc dự phòng.

Yếu tố 2: không thể lường trước được

Tính không lường trước được xét tại thời điểm giao kết hợp đồng. Sự kiện đã tồn tại hoặc đã được cảnh báo rộng rãi trước khi ký thì khó thỏa mãn.

Đây cũng là lý do vì sao một điều khoản bất khả kháng viết sẵn danh sách quá dài đôi khi phản tác dụng: liệt kê một loại sự kiện trong hợp đồng có thể được hiểu là các bên đã lường trước loại sự kiện đó.

Yếu tố 3: không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp

Đây là yếu tố khó nhất và cũng là yếu tố phải chứng minh bằng hành động, không phải bằng lập luận.

Cần cho thấy đã làm gì để khắc phục: tìm nguồn cung thay thế, tìm phương án vận chuyển khác, huy động nguồn lực bổ sung, đề nghị điều chỉnh cách thức thực hiện. Không có hồ sơ về các nỗ lực này thì rất khó chứng minh yếu tố thứ ba.

Hồ sơ cần chuẩn bị ngay từ ngày đầu sự kiện xảy ra.

Văn bản của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu chứng minh sự kiện đã xảy ra và phạm vi ảnh hưởng.

Nhật ký các biện pháp đã áp dụng để khắc phục, kèm bằng chứng như thư chào giá từ nhà cung cấp thay thế, báo giá vận chuyển, biên bản họp nội bộ.

Toàn bộ trao đổi với đối tác, đặc biệt là văn bản thông báo đầu tiên và ngày gửi.

Nhóm hồ sơ này phải được lập trong lúc sự việc đang diễn ra. Dựng lại sau khi tranh chấp phát sinh thì giá trị chứng minh giảm rất nhiều.

Ba Mốc Thời Hạn Ít Người Biết

Với hợp đồng thương mại, Luật Thương mại 2005 đặt ra những mốc rất cụ thể mà nhiều hợp đồng không nhắc tới.

Nghĩa vụ thông báo theo Điều 295

Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Nếu không thông báo hoặc thông báo không kịp thời thì phải bồi thường thiệt hại.

Nghĩa là một sự kiện đủ điều kiện bất khả kháng vẫn có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường, chỉ vì khâu thông báo làm chậm. Đây là điểm cần đưa vào quy trình nội bộ chứ không chỉ để trong hợp đồng.

Giới hạn kéo dài thời hạn theo Điều 296

Thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuậnThời gian kéo dài tối đa
Không quá 12 tháng kể từ ngày giao kết hợp đồngKhông quá 05 tháng
Trên 12 tháng kể từ ngày giao kết hợp đồngKhông quá 08 tháng

Trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn được kéo dài thêm một khoảng bằng thời gian xảy ra sự kiện cộng thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không vượt quá các mốc trên.

Quyền từ chối và thời hạn 10 ngày

Khi thời gian kéo dài vượt quá các mốc nêu trên, các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại.

Bên từ chối phải thông báo cho bên kia trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn kéo dài, và phải thông báo trước khi bên kia bắt đầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

Ba con số 05 tháng, 08 tháng và 10 ngày này đáng được ghi vào quy trình xử lý sự cố của doanh nghiệp, vì chúng quyết định việc chấm dứt hợp đồng có kèm trách nhiệm bồi thường hay không.

Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản: Năm Điều Kiện

Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu có đủ năm điều kiện, không phải một vài trong số đó.

Điều kiệnNội dung
aSự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng
bTại thời điểm giao kết, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh
cHoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết, hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác
dTiếp tục thực hiện mà không thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên
đBên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất hợp đồng, mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng

Điều kiện c là ngưỡng cao nhất

Cụm "nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác" đặt ra một chuẩn rất cao. Việc lợi nhuận giảm, thậm chí lỗ ở mức thông thường của rủi ro kinh doanh, khó đạt tới ngưỡng này.

Đây là lý do Điều 420 ít được áp dụng thành công trong thực tế dù hay được viện dẫn.

Điều kiện đ đòi hỏi hành động, không phải lập luận

Giống yếu tố thứ ba của bất khả kháng, điều kiện này yêu cầu chứng minh đã làm gì để giảm thiểu ảnh hưởng. Bên nào ngồi yên chờ đến lúc tranh chấp mới nêu vấn đề thì rất khó thỏa mãn.

Quy trình ba bước theo Điều 420

Bước một, đàm phán lại. Khoản 2 quy định bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Đây là quyền yêu cầu đàm phán, không phải quyền tự sửa hợp đồng.

Bước hai, yêu cầu Tòa án. Nếu không thỏa thuận được trong thời hạn hợp lý, một bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định, hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Bước ba, giới hạn thẩm quyền sửa đổi của Tòa án. Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Nghĩa là chấm dứt là hướng mặc định, sửa đổi là ngoại lệ.

Cái Bẫy Nằm Ở Khoản 4 Điều 420

Đây là quy định gây thiệt hại nhiều nhất cho bên viện dẫn Điều 420 mà không đọc hết điều luật.

"Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Nghĩa là gửi công văn yêu cầu đàm phán lại không cho phép dừng thực hiện hợp đồng. Khởi kiện ra Tòa án cũng không. Trong suốt quá trình đó, bên viện dẫn vẫn phải giao hàng, vẫn phải cung cấp dịch vụ, vẫn phải thanh toán.

Doanh nghiệp tự dừng thực hiện trong giai đoạn này rơi vào thế vi phạm hợp đồng, và khi đó bên kia có quyền áp dụng các chế tài đã thỏa thuận. Kết quả là một tình huống lẽ ra có cơ sở pháp lý lại biến thành một vụ vi phạm hợp đồng rõ ràng.

Cách xử lý đúng khi rơi vào hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Gửi văn bản yêu cầu đàm phán lại, nêu rõ căn cứ theo Điều 420 và trình bày đủ năm điều kiện kèm bằng chứng.

Tiếp tục thực hiện hợp đồng trong khi đàm phán, và ghi nhận rõ ràng bằng văn bản rằng việc tiếp tục thực hiện là để tuân thủ khoản 4 Điều 420, không phải là từ bỏ yêu cầu của mình.

Nếu muốn tạm dừng, phải đạt được thỏa thuận bằng văn bản với bên kia, vì khoản 4 cho phép "trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

Cách Viết Điều Khoản Cho Đủ

Một điều khoản bất khả kháng chỉ liệt kê sự kiện là điều khoản thiếu. Sáu nội dung sau nên có.

1. Định nghĩa mở thay vì danh sách đóng

Nên bắt đầu bằng định nghĩa theo tiêu chí, bám khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, sau đó mới nêu ví dụ minh họa với cụm mở như "bao gồm nhưng không giới hạn ở". Danh sách đóng dễ bỏ sót loại sự kiện chưa từng gặp.

2. Thời hạn thông báo cụ thể

Ghi rõ số ngày kể từ khi sự kiện xảy ra hoặc từ khi biết về sự kiện, hình thức thông báo, và tài liệu kèm theo. Đây là cách cụ thể hóa nghĩa vụ thông báo tại Điều 295 Luật Thương mại 2005.

3. Hậu quả trong thời gian sự kiện kéo dài

Nghĩa vụ nào được tạm hoãn, nghĩa vụ nào vẫn phải thực hiện, có phải trả phí trong thời gian đó không. Với hợp đồng thuê hoặc hợp đồng dịch vụ định kỳ, đây là nội dung có giá trị tiền rất rõ.

4. Mốc thời gian để mỗi bên được chấm dứt

Nêu rõ nếu sự kiện kéo dài quá bao nhiêu ngày thì mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng và hậu quả về tiền ra sao. Với hợp đồng thương mại, cần đối chiếu với các mốc 05 tháng và 08 tháng tại Điều 296 Luật Thương mại 2005.

5. Nghĩa vụ hợp tác và giảm thiểu thiệt hại

Cả hai bên có nghĩa vụ áp dụng biện pháp hợp lý để giảm thiểu ảnh hưởng và phối hợp tìm phương án thay thế. Điều khoản này gắn với yếu tố thứ ba của bất khả kháng và điều kiện đ của Điều 420, đồng thời hỗ trợ lập luận về nghĩa vụ hạn chế tổn thất.

6. Điều khoản riêng về hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Đây là phần gần như không hợp đồng mẫu nào có, nhưng lại rất hữu ích với hợp đồng dài hạn hoặc hợp đồng có đơn giá cố định.

Nội dung nên gồm: ngưỡng biến động cụ thể làm phát sinh quyền yêu cầu đàm phán lại, ví dụ biến động vượt một tỷ lệ nhất định của một chỉ số xác định được; thời hạn đàm phán; và hậu quả nếu không đạt thỏa thuận.

Có điều khoản này thì hai bên xử lý bằng cơ chế đã thỏa thuận, thay vì phải chứng minh đủ năm điều kiện của Điều 420 trước Tòa án.

Phân Tích Ba Trường Hợp Thực Tế

Trường hợp 1: giá nguyên liệu tăng gần gấp đôi

Bối cảnh. Hợp đồng cung cấp vật liệu đơn giá cố định 12 tháng. Sau sáu tháng, giá đầu vào tăng gần gấp đôi.

Sai lầm. Gửi công văn viện dẫn bất khả kháng và dừng giao hàng.

Vấn đề pháp lý. Giá tăng không làm việc giao hàng trở nên không thể thực hiện được, nên không thỏa mãn yếu tố thứ ba của khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015. Việc tự dừng giao hàng đặt nhà thầu vào thế vi phạm hợp đồng.

Hướng đúng. Viện dẫn Điều 420, trình bày đủ năm điều kiện kèm bằng chứng về mức biến động và các biện pháp đã áp dụng, đồng thời tiếp tục giao hàng trong khi đàm phán theo khoản 4. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng.

Lưu ý. Điều kiện c của Điều 420 là ngưỡng cao, nên kết quả không chắc chắn. Nhưng con đường này ít nhất không tự biến mình thành bên vi phạm.

Trường hợp 2: sự kiện thật nhưng thông báo muộn

Bối cảnh. Sự kiện khách quan làm hư hỏng kho hàng, đủ điều kiện là bất khả kháng. Doanh nghiệp xử lý nội bộ ba tuần rồi mới thông báo cho khách hàng.

Vấn đề pháp lý. Điều 295 Luật Thương mại 2005 quy định bên vi phạm phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và hậu quả có thể xảy ra. Nếu không thông báo hoặc thông báo không kịp thời thì phải bồi thường thiệt hại.

Bài học. Sự kiện đủ điều kiện bất khả kháng vẫn có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường do lỗi ở khâu thông báo. Việc gửi văn bản thông báo nên là hành động đầu tiên, thực hiện song song với việc xử lý sự cố chứ không phải sau khi xử lý xong.

Trường hợp 3: dừng thực hiện trong khi chờ Tòa án

Bối cảnh. Doanh nghiệp khởi kiện yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng theo Điều 420, đồng thời ngừng cung cấp dịch vụ vì cho rằng đã đưa vụ việc ra Tòa.

Vấn đề pháp lý. Khoản 4 Điều 420 quy định trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và khi Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Hệ quả. Việc ngừng cung cấp dịch vụ là hành vi vi phạm hợp đồng độc lập, phát sinh trách nhiệm riêng, bất kể yêu cầu theo Điều 420 có được chấp nhận hay không.

Bài học. Đây là điều khoản nên đọc trọn vẹn bốn khoản trước khi hành động. Ba khoản đầu cho quyền, khoản thứ tư đặt ra ràng buộc.

Quy Trình Xử Lý Khi Sự Kiện Xảy Ra

Bước 1: xác định thuộc chế định nào

Câu hỏi duy nhất cần trả lời: việc thực hiện hợp đồng có còn khả thi không. Nếu không khả thi thì hướng bất khả kháng. Nếu vẫn khả thi nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng thì hướng Điều 420.

Xác định sai ở bước này làm sai toàn bộ các bước sau, kể cả khi tình huống thực tế là có cơ sở.

Bước 2: gửi văn bản thông báo ngay

Đây là việc phải làm trong những ngày đầu, không phải sau khi đã xử lý xong sự cố. Văn bản nêu rõ sự kiện, thời điểm xảy ra, ảnh hưởng tới nghĩa vụ nào, căn cứ pháp lý viện dẫn, và đề xuất hướng xử lý.

Gửi bằng phương thức có thể chứng minh đã gửi và đã đến, theo địa chỉ ghi trong hợp đồng.

Bước 3: lập hồ sơ chứng minh trong lúc sự việc đang diễn ra

Tài liệu về sự kiện, nhật ký các biện pháp đã áp dụng để khắc phục hoặc giảm thiểu, toàn bộ trao đổi với đối tác và với bên thứ ba liên quan.

Hồ sơ này phục vụ yếu tố thứ ba của bất khả kháng hoặc điều kiện đ của Điều 420, và đây là phần khó dựng lại nhất về sau.

Bước 4: tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ còn khả thi

Với hướng Điều 420, đây là yêu cầu bắt buộc theo khoản 4. Với hướng bất khả kháng, việc tiếp tục thực hiện những phần không bị ảnh hưởng cũng củng cố lập luận về thiện chí.

Nếu muốn tạm dừng, phải có thỏa thuận bằng văn bản với bên kia.

Bước 5: theo dõi các mốc thời hạn và quyết định

Với hợp đồng thương mại, theo dõi mốc 05 tháng hoặc 08 tháng theo Điều 296 Luật Thương mại 2005, và mốc 10 ngày để thông báo từ chối thực hiện. Với hướng Điều 420, theo dõi thời hạn đàm phán đã đặt ra để quyết định thời điểm khởi kiện.

Khi Nào Cần Luật Sư

Trước khi gửi công văn viện dẫn. Đây là thời điểm có giá trị cao nhất, vì viện dẫn sai chế định thường khó rút lại và có thể bị dùng làm bằng chứng bất lợi. Một văn bản đúng căn cứ ngay từ đầu tiết kiệm rất nhiều về sau.

Khi đối tác viện dẫn bất khả kháng với mình. Cần đánh giá đủ ba yếu tố hay chưa, và kiểm tra khâu thông báo có đúng thời hạn không, vì đây thường là điểm yếu của bên viện dẫn.

Với hợp đồng dài hạn hoặc đơn giá cố định. Nên có điều khoản riêng về cơ chế điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi, thay vì phải dựa vào Điều 420 với năm điều kiện khó chứng minh.

Khi đã có thiệt hại lớn và hai bên bất đồng về nguyên nhân. Nhóm này thường cần đánh giá đồng thời nhiều chế định: bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, giới hạn trách nhiệm và nghĩa vụ hạn chế tổn thất.

5 Sai Lầm Thường Gặp

Sai lầm 1: gọi mọi khó khăn là bất khả kháng. Chi phí tăng, tỷ giá biến động, nhà cung cấp phụ chậm giao hàng thường không làm việc thực hiện trở nên không thể. Phép thử nhanh: nếu có thêm tiền thì làm được hay không.

Sai lầm 2: tự dừng thực hiện khi viện dẫn Điều 420. Khoản 4 Điều 420 buộc các bên tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong quá trình đàm phán và khi Tòa án đang giải quyết. Tự dừng là tạo ra một vi phạm hợp đồng độc lập.

Sai lầm 3: thông báo muộn. Điều 295 Luật Thương mại 2005 buộc thông báo ngay bằng văn bản. Không thông báo hoặc thông báo không kịp thời thì phải bồi thường, dù sự kiện có thật.

Sai lầm 4: không lưu hồ sơ về nỗ lực khắc phục. Cả bất khả kháng lẫn Điều 420 đều đòi hỏi chứng minh đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết. Đây là phần phải ghi nhận trong lúc sự việc đang diễn ra.

Sai lầm 5: điều khoản chỉ có danh sách sự kiện. Liệt kê "thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh" rồi hết là điều khoản không hướng dẫn được gì khi sự việc xảy ra. Cần thêm thời hạn thông báo, hậu quả trong thời gian kéo dài, và mốc để mỗi bên được chấm dứt.

Câu Hỏi Thường Gặp

Giá nguyên liệu tăng mạnh có phải bất khả kháng không?

Thông thường là không. Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu sự kiện phải không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Giá tăng làm việc thực hiện đắt hơn chứ không làm nó bất khả thi. Tình huống này có thể thuộc phạm vi Điều 420 về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nhưng phải đáp ứng đủ năm điều kiện, trong đó có điều kiện hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc giao kết với nội dung hoàn toàn khác.

Viện dẫn bất khả kháng thì có được dừng hợp đồng luôn không?

Không tự động. Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự khi không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng, nhưng đây là miễn trách nhiệm chứ không phải quyền chấm dứt hợp đồng. Với hợp đồng thương mại, Điều 296 Luật Thương mại 2005 quy định quyền từ chối thực hiện chỉ phát sinh khi thời gian kéo dài vượt quá 05 tháng hoặc 08 tháng tùy loại hợp đồng.

Không thông báo cho đối tác thì có mất quyền viện dẫn không?

Điều 295 Luật Thương mại 2005 quy định bên vi phạm phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Nếu không thông báo hoặc thông báo không kịp thời thì phải bồi thường thiệt hại. Vì vậy việc chậm thông báo có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường ngay cả khi sự kiện là bất khả kháng thật.

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khác bất khả kháng ở điểm nào?

Khác ở câu hỏi cốt lõi và ở hậu quả. Bất khả kháng áp dụng khi việc thực hiện trở nên không thể, hậu quả là miễn trách nhiệm dân sự. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản áp dụng khi việc thực hiện vẫn khả thi nhưng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng, hậu quả là quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng và nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi. Đặc biệt, theo khoản 4 Điều 420, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong suốt quá trình đó.

Tòa án có được tự sửa nội dung hợp đồng không?

Có, nhưng trong phạm vi hẹp. Khoản 3 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép Tòa án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi khi việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với chi phí thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Nghĩa là chấm dứt là hướng chính, sửa đổi là ngoại lệ.

Thời gian kéo dài hợp đồng do bất khả kháng tối đa bao lâu?

Theo Điều 296 Luật Thương mại 2005, nếu các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được kéo dài thêm một khoảng bằng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng cộng thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không quá 05 tháng với hàng hóa, dịch vụ có thời hạn giao hoặc cung ứng không quá 12 tháng kể từ ngày giao kết, và không quá 08 tháng với trường hợp trên 12 tháng.

Sau khi hết thời hạn kéo dài thì làm gì?

Khi thời gian kéo dài vượt quá các mốc nêu trên, các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại. Bên từ chối phải thông báo cho bên kia trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn kéo dài và phải thông báo trước khi bên kia bắt đầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

Nên viết điều khoản bất khả kháng theo danh sách hay theo định nghĩa?

Nên bắt đầu bằng định nghĩa theo tiêu chí, bám sát khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, rồi mới nêu ví dụ minh họa với cụm mở như bao gồm nhưng không giới hạn ở. Danh sách đóng có hai nhược điểm: dễ bỏ sót loại sự kiện chưa từng gặp, và việc liệt kê một loại sự kiện có thể được hiểu là các bên đã lường trước loại sự kiện đó, làm yếu chính yếu tố không thể lường trước được.

Hợp đồng dài hạn nên có điều khoản gì để phòng biến động giá?

Nên có điều khoản riêng về cơ chế điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi, với ba nội dung: ngưỡng biến động cụ thể làm phát sinh quyền yêu cầu đàm phán lại, gắn với một chỉ số xác định được; thời hạn đàm phán; và hậu quả nếu không đạt thỏa thuận trong thời hạn đó. Có cơ chế này thì hai bên xử lý theo thỏa thuận, thay vì phải chứng minh đủ năm điều kiện của Điều 420 trước Tòa án.

Đối tác viện dẫn bất khả kháng, tôi nên kiểm tra gì?

Bốn việc. Sự kiện có đủ ba yếu tố khách quan, không lường trước được và không khắc phục được hay không. Thời điểm xảy ra là trước hay sau khi giao kết hợp đồng. Việc thông báo có được thực hiện bằng văn bản và kịp thời theo Điều 295 Luật Thương mại 2005 hay không. Và bên kia đã áp dụng biện pháp gì để khắc phục, có hồ sơ chứng minh không. Trong thực tế, khâu thông báo và khâu chứng minh nỗ lực khắc phục là hai điểm yếu thường gặp nhất.

Kết Luận

Hai chế định này giải quyết hai vấn đề khác nhau và không thay thế cho nhau. Bất khả kháng dành cho tình huống không thực hiện được và cho hậu quả là miễn trách nhiệm. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản dành cho tình huống vẫn thực hiện được nhưng thiệt hại nghiêm trọng, và cho hậu quả là quyền yêu cầu đàm phán lại.

Ba việc quyết định kết quả trong thực tế. Chọn đúng chế định trước khi soạn bất kỳ văn bản nào. Thông báo ngay bằng văn bản, vì chậm thông báo có thể làm mất lợi thế dù sự kiện là thật. Và lập hồ sơ về các biện pháp đã áp dụng ngay trong lúc sự việc đang diễn ra, vì cả hai chế định đều đòi hỏi chứng minh nỗ lực khắc phục.

Riêng với Điều 420, cần đọc trọn vẹn cả bốn khoản. Ba khoản đầu cho quyền, khoản thứ tư buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong suốt quá trình đàm phán và tố tụng. Bỏ qua khoản này là cách nhanh nhất để biến một tình huống có cơ sở thành một vụ vi phạm hợp đồng.

N.H Legal - Xử Lý Rủi Ro Và Tranh Chấp Hợp Đồng

  • Đánh giá tình huống thuộc bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản
  • Soạn văn bản thông báo và yêu cầu đàm phán lại đúng căn cứ pháp lý
  • Hướng dẫn lập hồ sơ chứng minh nỗ lực khắc phục ngay từ ngày đầu
  • Rà soát và bổ sung điều khoản bất khả kháng, cơ chế điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi
  • Đánh giá khi đối tác viện dẫn bất khả kháng với doanh nghiệp của anh chị
  • Đại diện đàm phán và tham gia tố tụng tại Tòa án, Trọng tài

Hotline/Zalo: 0777 516 000
Website: nhlegal.com.vn
Dịch vụ: Hợp đồng & Giao dịch

Người biên soạn: Đội ngũ N.H Legal
Người kiểm duyệt: Luật sư Đỗ Thị Hương - Thạc sĩ Nguyễn Xuân Nhất
Đơn vị: Công ty Luật TNHH N.H Legal | Website: nhlegal.com.vn
Ngày cập nhật: 17/08/2026

Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm cập nhật, không phải tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Việc xác định một sự kiện có phải bất khả kháng hay có đủ điều kiện của hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không phụ thuộc vào tình tiết và chứng cứ của từng vụ việc, và thuộc thẩm quyền đánh giá của cơ quan giải quyết tranh chấp. Các mốc thời hạn nêu trong bài áp dụng cho hợp đồng thuộc phạm vi Luật Thương mại 2005; hợp đồng dân sự thuần túy và hợp đồng chuyên ngành có thể áp dụng quy định riêng. Vui lòng liên hệ N.H Legal để được tư vấn cho trường hợp cụ thể.

Lưu ý pháp lý: Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung tại thời điểm đăng/cập nhật, không phải tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể đã được sửa đổi, bổ sung. Vui lòng liên hệ N.H Legal để được tư vấn theo tình huống của bạn.
Chia sẻ:Facebook
Gọi ngay Nhắn Zalo
Gọi Zalo Đặt lịch